Trong dân gian Việt Nam thường có câu: "Khớp nó đớp tim" chính là chỉ tình trạng bệnh van hai lá. Không như nhiều bệnh tim khác, bệnh van hai lá khá…“đỏng đảnh”: hẹp cũng không được, hở cũng không xong, vừa hẹp, vừa hở cũng gây sự.
Van tim... “đỏng đảnh”
Bệnh van hai lá đa
phần có nguyên nhân từ thấp tim, xảy ra khi bệnh nhân còn trẻ. Hầu hết
các trường hợp mắc bệnh này trên thế giới xảy ra ở những nước nghèo và
rơi vào người nghèo, sống trong những khu nhà ẩm thấp thiếu vệ sinh, dễ
lây nhiễm các bệnh của vùng họng mũi và đường hô hấp do vi trùng
Streptococus gây nên.
Bệnh đầu tiên về van
tim hậu thấp phải kể đến là bệnh hẹp van hai lá. Đây là một căn bệnh về
van tim hay gặp nhất, chiếm gần 60% các bệnh về van tim. Những triệu
chứng cơ bản của bệnh đã được ghi nhận trong y văn là khó thở, đặc biệt
khó thở khi nằm và kịch phát về đêm. Các triệu chứng này cũng xuất hiện
khi bệnh nhân có thai hoặc bị rung nhĩ. Chính vì vậy ở những phụ nữ bị
hẹp van hai lá chưa được điều trị triệt để, các thầy thuốc thường
khuyên người bệnh không nên có thai. Có khoảng 50 - 80% các bệnh nhân
bị hẹp van hai lá có xuất hiện những cơn rung nhĩ kịch phát hay mạn
tính. Từ đó có thể gây ra phù phổi cấp và thúc đẩy nhanh quá trình suy
tim làm cho bệnh nhân có thể tử vong, nếu không được cấp cứu kịp thời.
Hở van hai lá có thể
do nhiều nguyên nhân gây ra. Đa phần là do bệnh thấp tim kết hợp với
dày van và sự di động của lá van. Bệnh thường phối hợp với hẹp van hai
lá gây nên tình trạng hẹp, hở van hai lá. Ở những nước đang phát triển
như Việt Nam và ở những người nghèo thì nguyên nhân chính hiện nay vẫn là biến chứng của thấp tim.
Các triệu chứng chính
của hở van hai lá cũng vẫn là những cơn đau ngực trái không điển hình,
khó thở kèm theo mệt mỏi, có thể có cảm giác hồi hộp đánh trống ngực.
Phần lớn bệnh nhân là nữ giới, gầy, có một số biến dạng nhẹ của lồng
ngực.
Điều trị
Có ba mức độ hẹp của
van tim: hẹp nhẹ, hẹp vừa và hẹp khít hai lá van. Để chẩn đoán chính
xác, bệnh nhân cần được siêu âm tim. Có bốn mức độ hở van từ nhẹ tới
nặng, phân theo cấp số từ 1/4 - 4/4. Ngoài ra, trong một số trường hợp
khác hay trước khi phẫu thuật, bệnh nhân có thể được đo áp lực động
mạch phổi bằng thông tim. Đây là một xét nghiệm xâm lấn có thể gây nguy
hiểm cho bệnh nhân, do đó chỉ làm khi có chỉ định đặc biệt của bác sĩ.
Lúc đó thầy thuốc sẽ
thấy rõ hoạt động của van hai lá và tình trạng hẹp của nó. Bệnh hẹp van
hai lá có thể có hoặc không có triệu chứng suốt đời. Hầu hết các trường
hợp, trong một thời gian dài không có triệu chứng, sau đó sẽ làm hạn
chế hoạt động thể lực. Sự xuất hiện tình trạng rung nhĩ thường làm cho
suy tim trở nên nặng hơn.
Việc điều trị chủ yếu
là chống suy tim bằng chế độ ăn hạn chế muối, nghỉ ngơi, nằm đầu cao
khi ngủ, sử dụng thuốc chống suy tim, lợi tiểu… Nếu bệnh nhân bị hẹp
van hai lá nặng thì cần phải can thiệp tạo hình tách lá van, tạo hình
van hay thay toàn bộ van.
Việc tách van hai lá
có thể thực hiện qua đường nội mạch không cần phải phẫu thuật. Còn tạo
hình lá van hay thay van tim cần phải phẫu thuật với máy tim phổi nhân
tạo. Tuy nhiên, nong van bằng bong bóng hay phẫu thuật đều rất đắt
tiền, phần lớn bệnh nhân bị hẹp van hai lá do nghèo nên không thể tiếp
cận với điều trị được, ngoại trừ có sự trợ giúp của xã hội hay của nhà
nước qua hoạt động từ thiện hoặc bảo hiểm y tế.
Cách nào để phòng bệnh?
Do chi phí điều trị
bệnh van tim rất cao, nên không phải bệnh nhân nào cũng được điều trị
triệt để. Đã có nhiều bệnh nhân tử vong do không được điều trị hay điều
trị muộn, đến bệnh viện trong tình trạng đã quá nặng. Không thể trách
cứ người bệnh khi mà phần lớn họ rất nghèo, không thể theo đuổi quá
trình điều trị khá lâu dài và tốn kém. Vai trò của nhà nước, của các tổ
chức xã hội trong hỗ trợ tài chính cho người bệnh điều trị tuy là một
yêu cầu rất cấp thiết nhưng quan trọng hơn cả là việc phòng ngừa để
bệnh đừng xảy ra, không để tình trạng “mất bò mới lo làm chuồng”.
Bệnh hay xảy ra khi
người bệnh sống trong môi trường ẩm thấp, thiếu vệ sinh… Do đó việc cải
tạo môi trường sống, nâng cao chất lượng sống, tìm cách thoát nghèo là
một yếu tố rất quan trọng. Nếu bệnh nhân đã bị bệnh thấp tim cần phải
có chế độ khám định kỳ, uống hoặc tiêm kháng sinh liên tục cho đến năm
25 tuổi theo khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới.
PGS.TS Nguyễn Hoài Nam
(Theo SGTT)
|